Thay đổi các thông số khí máu động mạch sau thở máy rung tần số cao qua mũi trong chiến lược cứu sinh nhằm tránh đặt nội khí quản ở trẻ sơ sinh < 32 tuần và < 1500 gram
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Trẻ sinh non mắc hội chứng nguy kịch hô hấp (RDS) thường cần hỗ trợ hô hấp ở các mức độ khác nhau. Do các biến chứng của việc đặt nội khí quản thở máy và do hiệu quả không cao của các phương pháp thở không xâm lấn khác (nCPAP, BiPAP và NIPPV), chúng tôi tiến hành nghiên cứu hiệu quả và an toàn của thở máy rung tần số cao qua mũi (nHFOV).
Mục tiêu: So sánh trung bình thay đổi các thông số khí máu pH, pCO2, pO2, SpO2, FiO2 và BE trước và sau thở nHFOV tại khoa Hồi sức Sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 1 từ ngày 01/08/2018 đến ngày 31/8/2020.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca, được thực hiện qua hồi cứu số liệu tất cả trẻ sinh rất non - rất nhẹ cân, thất bại với thở không xâm lấn, nhập bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/08/2018 đến 31/8/2020.
Kết quả: Có 26 trẻ được thở nHFOV với chỉ định cứu sinh. Trong đó, có 1 trẻ được loại ra khỏi mẫu do cần đặt nội khí quản (NKQ) cho liệu pháp thay thế surfactant, 20 trẻ (80%) thành công với thở nHFOV, 5 trẻ (20%) thất bại với phương pháp này. Kết quả pCO2 máu sau thở nHFOV trong nghiên cứu chúng tôi là 42,7 ± 12 mmHg, kết quả pH máu là 7,27 ± 0,06. FiO2 giảm từ 46% còn 41% sau thở nHFOV. Trong nhóm thành công, pCO2 máu khác biệt có ý nghĩa thống kê trước và sau thở nHFOV. Trong khi đó kết quả pO2 máu và SpO2 thay đổi không đáng kể. Không ghi nhận biến chứng liên quan trong khi thở nHFOV.
Kết luận: Thở máy nHFOV có thể hiệu quả và an toàn ở những trẻ sinh non nhẹ cân mắc RDS trong việc thải trừ CO2 trong máu, giảm nhu cầu sử dụng oxy.
Từ khóa: khí máu động mạch, thở máy rung tần số cao qua mũi, trẻ sinh non
Viết tắt: Thở máy rung tần số cao qua mũi, hội chứng nguy kịch hô hấp, thở thông khí áp lực dương liên tục qua mũi, thở máy hai mức áp lực dương, thở máy không xâm lấn