Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân cao tuổi mắc thuyên tắc phổi cấp
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Thuyên tắc phổi cấp là tình trạng cấp cứu tim mạch thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao ở người cao tuổi. Ở nhóm này, biểu hiện lâm sàng thường không điển hình và gánh nặng đa bệnh và suy yếu có thể ảnh hưởng đến phân tầng nguy cơ và kết cục nội viện.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phân tầng nguy cơ và tình trạng suy yếu ở bệnh nhân cao tuổi mắc thuyên tắc phổi cấp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi nhập viện tại bệnh viện Thống Nhất và bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2019–07/2024, được chẩn đoán xác định thuyên tắc phổi cấp bằng chụp cắt lớp vi tính lồng ngực hay động mạch phổi có cản quang. Thu thập dữ liệu lâm sàng, điện tâm đồ, siêu âm tim, xét nghiệm, vị trí huyết khối trên CT; phân tầng nguy cơ theo PESI/sPESI và ESC 2019; xác định suy yếu theo thang điểm nguy cơ suy yếu bệnh viện Hospital Frailty Risk Score (HFRS).
Kết quả: Nghiên cứu gồm 237 bệnh nhân, tuổi trung vị 74 [68–81], nữ chiếm 73%. Bệnh đồng mắc thường gặp là tăng huyết áp (65%), đái tháo đường (32,9%); yếu tố nguy cơ hay gặp là bất động tại giường > 3 ngày (19,4%). Khó thở (68,8%) và đau ngực (38,4%) là triệu chứng thường gặp; rối loạn tri giác 16,5%, suy hô hấp 60,8%, tụt huyết áp 15,6%. Siêu âm tim ghi nhận tăng áp phổi là 54,9%, dãn thất phải là 41,8%, TAPSE <16 mm là 38,0%; huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới là 45,1% (đoạn gần 38,8%). D-dimer và NT-proBNP tăng cao với trung vị lần lượt 6466 ng/mL và 1226 pg/mL. Phân tầng nguy cơ cho thấy PESI độ III–V chiếm 80,2%; theo ESC 2019, nguy cơ trung bình chiếm đa số (76,8%) và nguy cơ cao 14,8%. Tỷ lệ suy yếu theo HFRS (≥ 5 điểm) là 48,1%. Điều trị ban đầu chủ yếu là heparin trọng lượng phân tử thấp (78,5%); tái thông bằng tiêu sợi huyết là 14,3%. Biến chứng nội viện thường gặp gồm nhiễm trùng (27%), tổn thương thận cấp (26,2%), chuyển ICU/CCU (24,5%), xuất huyết (6,8%) và tử vong (9,3%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, yếu tố liên quan với tử vong nội viện gồm tuổi ≥ 85 (p = 0,018), ung thư (p = 0,014), COPD (p = 0,027), suy yếu theo HFRS (p = 0,004) và huyết áp tâm thu <90 mmHg (p <0,001); béo phì (p = 0,017). Trong mô hình Firth rút gọn ghi nhận huyết áp < 90 mmHg (OR 8; KTC 95%: 2,930–21,775) và HFRS (OR 11,2; KTC 95%: 1,976–63,964).
Kết luận: Bệnh nhân cao tuổi thuyên tắc phổi cấp có gánh nặng đa bệnh và tỷ lệ suy yếu cao, phần lớn thuộc nhóm nguy cơ trung bình–cao, kèm tỷ lệ biến chứng nội viện đáng kể. Việc lồng ghép sàng lọc suy yếu vào phân tầng nguy cơ có thể hỗ trợ cá thể hóa điều trị và chăm sóc toàn diện người cao tuổi.
Từ khóa: thuyên tắc phổi; người cao tuổi; suy yếu; thang điểm nguy cơ suy yếu bệnh viện HFRS