Đặc điểm và các yếu tố liên quan tái can thiệp muộn do hẹp phổi tồn lưu ở bệnh nhân không lỗ van động mạch phổi vách liên thất nguyên vẹn
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Không lỗ van động mạch phổi vách liên thất nguyên vẹn (KLVĐMP-VLTNV) là một tật tim bẩm sinh nặng, hiếm gặp, có nhiều thể giải phẫu dẫn đến chiến lược điều trị và kết cục lâu dài khác nhau. Chiến lược điều trị chủ yếu là mở và nong van động mạch phổi nhằm giải áp cho buồng thoát thất phải, theo dõi sự phát triển của thất phải với mục tiêu đạt được tuần hoàn hai thất. Tuy nhiên, hẹp phổi tồn lưu sau can thiệp là tình trạng thường gặp, có thể dẫn đến tái can thiệp và ảnh hưởng đến tiên lượng lâu dài.
Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm hình thái - giải phẫu của hẹp phổi tồn lưu, (2) Tỉ lệ và phương pháp tái can thiệp, (3) Xác định các yếu tố dự đoán nguy cơ tái can thiệp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca các bệnh nhân KLVĐMP-VLTNV được can thiệp mở và nong van động mạch phổi (phân thành nhóm A và B theo hình thái giải phẫu), có thời gian theo dõi ≥ 3 tháng sau can thiệp đầu tiên, điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2011 đến 06/2019.
Kết quả: Có 26 bệnh nhân được theo dõi, trung vị thời gian theo dõi là 14 tháng (3 tháng–5,5 năm). Tỉ lệ hẹp phổi tồn lưu là 73,1%, chủ yếu mức độ nhẹ (68,4%), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm A và B. Hẹp tại van động mạch phổi chiếm tỉ lệ cao nhất (63,2%). Tỉ lệ tái can thiệp tích lũy tại các thời điểm 6, 12, 24 và 36 tháng lần lượt là 11,5%, 27,3%, 50,0% và 50,0%; các biến cố tái can thiệp đều xảy ra trong 2 năm đầu. Nong van động mạch phổi bằng bóng là phương pháp tái can thiệp phổ biến nhất (62,5%). Chênh áp qua van động mạch phổi sau lần can thiệp đầu tiên ở nhóm tái can thiệp cao hơn ở nhóm không cần tái can thiệp (35 [24,8–45,0] mmHg so với 19 [11,3–25,0] mmHg, p= 0,035). Ngưỡng chênh áp qua van động mạch phổi sau lần can thiệp đầu tiên ≥ 26 mmHg có giá trị dự đoán nguy cơ tái can thiệp (AUC = 0,77).
Kết luận: Hẹp phổi tồn lưu sau can thiệp ở bệnh nhân KLVĐMP-VLTNV là phổ biến nhưng đa số nhẹ. Tái can thiệp xảy ra chủ yếu trong 2 năm đầu và thường thực hiện bằng nong van động mạch phổi bằng bóng. Chênh áp qua van động mạch phổi sau lần can thiệp đầu tiên ≥ 26 mmHg là yếu tố tiên đoán nguy cơ tái can thiệp.
Từ khóa: không lỗ van động mạch phổi vách liên thất nguyên vẹn; hẹp phổi tồn lưu; tái can thiệp