Trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên Hùng Vương tỉnh Bình Dương

Các tác giả

  • Phạm Thị Kim Tuyến
  • Huỳnh Ngọc Vân Anh
  • Tô Gia Kiên

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học Phổ thông (THPT) chuyên Hùng Vương tỉnh Bình Dương năm 2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều bậc để chọn 662 học sinh. Bộ câu hỏi tự điền thu thập dữ liệu về đặc điểm cá nhân, gia đình, nhà trường, áp lực học tập (ESSA), vận động thể lực (GPAQv2) và trầm cảm, lo âu, căng thẳng (DASS-21).

Kết quả: Tỷ lệ lo âu, trầm cảm, căng thẳng lần lượt là 70,5%, 58,5%, 54,4%. Có áp lực học tập vừa, nặng làm tăng tỷ lệ trầm cảm lần lượt là 1,87 lần (KTC95%:1,47-2,40) và 2,68 lần (KTC95%:2,12-3,39), lo âu 1,35 lần (KTC95%:1,16-1,57) và 1,49 lần (KTC95%:1,29-1,72), căng thẳng 1,27 lần (KTC95%:1,01-1,61) và 2,22 lần (KTC95%:1,80-2,73). Tỷ lệ học sinh trầm cảm cao hơn ở nhóm có mẹ không nghề nghiệp. Hạnh kiểm không tốt có lo âu cao hơn 1,41 lần (KTC95%:1,18-1,65). Những học sinh sống ở ký túc xá hay nhà họ hàng có căng thẳng hơn 1,26 lần (KTC95%:1,04-1,52).

Kết luận: Học sinh cần cân bằng giữa học tập, giải trí và nghỉ ngơi. Gia đình, nhất là mẹ, nên lắng nghe, chia sẻ, hỗ trợ trong giải tỏa vấn đề về tâm lý. Giáo viên và nhà trường thiết lập chương trình hỗ trợ tâm lý, tổ chức hoạt động ngoại khóa và tăng kết nối xã hội để giảm áp lực. Đồng thời, tạo môi trường học tích cực, hỗ trợ tâm lý cho học sinh có hạnh kiểm chưa tốt.

Từ khoá: sức khỏe vị thành niên; Depression-Anxiety-Stress Scale-21; áp lực học tập; vận động thể lực

Lượt tải

Chưa có dữ liệu tải xuống.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2026-07-08