Khảo sát ảnh hưởng của tá dược, kích thước tiểu phân và một số đặc tính vật lý của hệ phân tán rắn chứa celecoxib

Các tác giả

  • Nguyễn Thạch Tùng
  • Yun-Seok Rhee

Tóm tắt

Celecoxib (Cel) là một thuốc ức chế chọn lọc men chuyển cycloxygenase-2 (Cox 2), được chỉ định chính trong các triệu chứng đau nhức, sưng viêm, nóng sốt. Celecoxib tan rất ít trong nước nhưng thấm tốt nên được  phân loại vào nhóm II hệ thống sinh dược học. Trong HPTR, dược chất sẽ được hòa tan vào khối chất mang để chuyển trạng thái từ dạng kết tinh sang dạng vô định hình. Đề tài nhằm đánh giá khả năng hiệp đồng của HPTR với các chất phụ trợ hoặc kỹ thuật giảm kích thước tiểu phân tới khả năng cải thiện độ tan của Cel.

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp bào chế hệ phân tán rắn: HPTR chứa Cel được bào chế bằng phương pháp bốc hơi dung môi. HPTR cuối cùng thu được bằng cách nghiền, rây bột đã sấy qua rây 45 mesh hoặc 80 mesh. Tốc độ hòa tan của Cel từ HPTR được đánh giá trên thiết bị hòa tan số 2 (Model DST-810, Labfine, Korea). Mẫu thí nghiệm là HPTR chứa khoảng 100 mg Cel. Mẫu được phân tích bằng HPLC.

Cơ chế làm tăng độ tan của Cel được giải thích bằng các kết quả phân tích nhiệt cắt lớp, nhiễu xạ tia X, phổ hồng ngoại Fourier.

Kết quả: Đề tài đã đánh giá ảnh hưởng của 2 nhóm tá dược và kích thước bột HPTR tới tốc độ hòa tan của Cel trong pH 1,2. Các Eudragit E100, EPO có thể tăng tốc độ hòa tan của Cel từ 14,1 - 17,7%. Giảm kích thước bột HPTR tăng tốc độ hòa tan của Cel một cách có ý nghĩa thống kê. Thông qua các kỹ thuật DSC, PXRD, FT-IR, cơ chế làm tăng độ tan của Cel được giải thích bằng liên kết ở mức độ phân tử giữa Cel:polymer. Theo đó, liên kết hydro, hoặc tương tác tĩnh điện là nguyên nhân chuyển dạng của Cel từ kết tinh sang vô định hình. 

Lượt tải

Chưa có dữ liệu tải xuống.

Đã Xuất bản

2014-10-03

Số

Chuyên mục

BÀI BÁO