Khảo sát hoạt tính kháng viêm của các dẫn chất quang hoạt cis-N-heptyl tetrahydro phthalazinon và cis-N-benzyl tetrahydro phthalazinon
Tóm tắt
Các nhà khoa học đã khám phá và phát triển những chất có hoạt tính ức chế phosphodiesterase (PDE) chọn lọc, đặc biệt trên PDE4 để điều trị bệnh viêm cấp tính và mạn tính. Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã tổng hợp thành công các dẫn chất phthalazinon có hoạt tính. Ở Việt Nam, các dẫn chất N-alkyl cis(+) và cis(-)-4-(3',4'-dimethoxyphenyl) tetrahydro phthalazinon đã được nhóm nghiên cứu tổng hợp và tiêu chuẩn hóa. Bước tiếp theo của công trình nghiên cứu là khảo sát hoạt tính kháng viêm của các hợp chất này nhằm sàng lọc chất có hoạt tính kháng viêm cao.
Phương pháp nghiên cứu:
Động vật thử nghiệm:Chuột nhắt trắng đực trưởng thành, chủng Swiss albino, nặng từ 22-25 g do Viện Vaccin và Sinh phẩm y tế Nha Trang cung cấp. Dùng mô hình gây phù chân chuột bằng dung dịch carrageenan 1%. Chuột được phân lô sơ bộ theo thể trọng và thể tích chân, mỗi lô trung bình từ 8 -10 con. Chuột được tiêm dưới da vào gan bàn chân trái sau 0,025 ml dung dịch carrageenan 1%. Tiến hành đo thể tích chân chuột sau khi tiêm 3 giờ. Khảo sát tác động ức chế viêm của các chất khảo sát so với rolipram.
Kết quả: Các dạng đồng phân đối quang riêng lẻ và racemic của dẫn chất cis-N-heptyl tetrahydro phthalazinon và cis-N-benzyl tetrahydro phthalazinon đều có tác dụng kháng viêm, đặc biệt đồng phân dạng cis(+) có tác dụng mạnh hơn dạng cis(-). Dẫn chất cis(+)-N-benzyl tetrahydro phthalazinon tác dụng kháng viêm mạnh hơn dẫn chất cis(+)-N-heptyl tetrahydro phthalazinon. Liều lượng cũng ảnh hưởng có ý nghĩa về mặt hiệu quả điều trị, Dẫn chất cis(+)-N-heptyl tetrahydro phthalazinon liều 60 µmol/kg và cis(+)-N-benzyl tetrahydro phthalazinon liều 30 µmol/kg ức chế độ phù chân chuột tốt hơn.