Sự phân bố của paclitaxel trong chế phẩm tiêm trên mô chuột thử nghiệm

Authors

  • Nguyễn Thanh Hà
  • Lê Minh Trí
  • Trần Mạnh Hùng
  • Phùng Hoàng Hiếu
  • Nguyễn Thiện Hải
  • Nguyễn Minh Phúc

Abstract

Với sự phát triển của thiết bị phân tích hiện đại, nghiên cứu phân bố thuốc trên huyết tương và mô động vật thí nghiệm đã góp phần cho định hướng nghiên cứu lâm sàng áp dụng trong quá trình thử nghiệm thuốc. Paclitaxel (PTX) là một trong những thuốc điều trị ung thư, đặc biệt là các loại ung thư vú, buồng trứng, ung thư phổi. Việc nghiên cứu bào chế chế phẩm chứa PTX tại Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho bệnh nhân được sử dụng thuốc hiệu quả với chi phí giảm nhẹ.

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu in vivo trên động vật về nồng độ PTX tại mô được đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu dược động học của PTX dạng tiêm trên chuột và thỏ cho thấy nồng độ thuốc tập trung chủ yếu ở các mô: gan, thận, lách, dạ dày, ruột, tụy, phổi...Tuy nhiên kĩ thuật lấy mô, động vật thử nghiệm, các biện pháp xử lí, bảo quản mẫu và phương pháp phân tích định lượng không giống nhau.

Để chứng minh chế phẩm PTX bào chế được có hiệu quả kháng khối u tại mô đích,việc xác định nồng độ PTX phân bố trong các mô sau khi tiêm tĩnh mạch là cần thiết. Tiếp theo những nghiên cứu nồng độ PTX trong huyết tương và phân bố trong một số mô chuột, bài báo này đã tiến hành xây dựng, thẩm định và khảo sát sự phân bố PTX trong mô gan, thận, phổi, buồng trứng của chuột nhắt trắng.

Đối tượng nghiên cứu

- Dung dịch PTX 6 mg/ml, lọ 30 mg/5 ml; Anzatax®; chuột nhắt cái chủng Swiss albino Phương pháp nghiên cứu

- Xử lý mẫu.

- Quy trình chiết PTX từ mẫu mô.

- Định lượng nồng độ thuốc bằng phương pháp sắc ký lỏng. Tiến hành thẩm định phương pháp (tính phù hợp hệ thống, tính đặc hiệu, tính tuyến tính, giới hạn định lượng dưới, độ đúng, hiếu uất chiết) và khảo sát nồng độ thuốc phân bố trong các mô.

Kết quả nghiên cứu

            Khi tiêm cùng liều 12 mg/kg chế phẩm bào chế và thuốc đối chiếu Anzatax® vào chuột, nồng độ thuốc trong mô chuột ở chế phẩm bào chế luôn lớn hơn thuốc đối chiếu. So với thuốc đối chiếu, chế phẩm bào chế có các thông số dược động học có mức khác biệt, nồng độ đạt được trong mô cao hơn so với thuốc đối chiếu. Tuy nhiên sự khác biệt này nằm trong khoảng cho phép ± 20% nên có thể đưa ra nhận định trên đối tượng chuột dùng liều 12 mg/kg đường tiêm tĩnh mạch đuôi 1 lần duy nhất, chế phẩm bào chế có thể xem như tương đương dược động học với thuốc đối chiếu.

Các thông số quan trọng là AUC, Cmax có sự khác biệt cho phép ± 20% nên nhận định trên đối tượng chuột dùng liều 12 mg/kg tiêm tĩnh mạch đuôi một lần duy nhất, chế phẩm bào chế đạt được nồng độ thuốc trong mô tương đương thuốc đối chiếu.

Downloads

Download data is not yet available.

Published

2016-05-16

Issue

Section

ARTILES