PHỤC HỒI RỪNG NGẬP MẶN TRONG BỐI CẢNH KẾT HỢP VỚI HOẠT ĐỘNG NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: CHÍNH SÁCH, KỸ THUẬT VÀ KIẾN NGHỊ

Các tác giả

  • Vinh Trương Văn
  • Hiền Trịnh Thục
  • Rót Phạm Minh

Từ khóa

Mangrove forest, forest carbon, rotation age, forest contracting, Ca Mau, Chu kỳ kinh doanh, Khoán rừng, Cà Mau, rừng ngập mặn, Carbon rừng

Tóm tắt

Rừng ngập mặn Cà Mau có diện tích lớn nhất Việt Nam nhưng đang chịu nhiều áp lực từ việc nuôi trồng thủy sản, sạt lở bờ biển và biến đổi khí hậu. Phần lớn diện tích được khoán cho các hộ dân thực hiện mô hình nuôi tôm dưới tán rừng. Nghiên cứu này phân tích khung chính sách, mô hình thực tiễn và cơ sở khoa học nhằm đánh giá kéo dài chu kỳ khai thác và áp dụng tỉa thưa đối với rừng Đước (Rhizophora apiculata Blume) trồng để góp phần phục hồi rừng ngập mặn bền vững. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích chính sách Việt Nam, so sánh với mô hình tương tự ở Indonesia và Philippines, khảo sát thực địa và tiến hành lập 172 ô điều tra 100m², đánh giá trữ sản lượng rừng khai thác của 26,4 ha. Kết quả cho thấy Cà Mau có 53.907,87 ha đất có rừng ngập mặn trên 97.924,28 ha đất rừng ngập mặn. Tổng diện tích khoán là 65.384,54 ha với 15.356 hộ nhận khoán, diện tích trung bình 4,3 ha/hộ. Mật độ rừng Đước trồng giảm từ 7.032 cây/ha (tuổi 4) xuống 3.353 cây/ha (tuổi 15), và trữ lượng đạt 92,65 m³/ha ở tuổi khai thác. Số tiền hộ nhận khoán được nhận là 44,7 triệu đồng/ha/chu kỳ kinh doanh. Do đó cần kéo dài chu kỳ lên hơn 20 năm và áp dụng tỉa thưa rừng theo từng giai đoạn sinh trưởng sẽ giúp tăng sản lượng, đồng thời giảm lượng vật rụng và tạo cơ hội tham gia dự án carbon rừng. Đây là cơ sở quan trọng cho chính sách điều chỉnh chu kỳ khai thác gắn với phục hồi và quản lý bền vững rừng ngập mặn.

 

Lượt tải

Chưa có dữ liệu tải xuống.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2026-01-05

Số

Chuyên mục

Bài viết